Sự khác biệt giữa DNA và RNA Virus

Anonim

Khác biệt giữa DNA và RNA Virus

Virus là các tác nhân sinh học lây nhiễm hoàn toàn phụ thuộc vào tế bào chủ để hoàn tất quá trình sao chép của chúng, sao chép bộ gen và dịch bản ghi mRNA thành các protein. Không giống như hầu hết sinh vật, virus không có tế bào. Một hạt virus được tạo thành từ một lõi của axit nucleic, được bao bọc trong một viên nang protein. Bộ gen virus bao gồm một DNA (deoxyribonucleic acid) hoặc RNA (ribonucleic acid). Tùy thuộc vào việc chúng có bộ gen DNA hay RNA, virus được phân thành hai loại; Virus DNA và RNA. DNA virut hoặc RNA có thể là tuyến tính hoặc hình tròn và một hoặc hai sợi.

Virus DNA

Các virut có bộ gen DNA được biết đến như những vi rút DNA. Một số virut có chứa bộ gen DNA kép hoặc đơn sợi DNA. Bộ gen này có thể là tuyến tính hoặc phân đoạn. Những virut này thường có kích thước lớn, có đường chéo, bao phủ trong lipoprotein, và chúng không có enzyme polymerase. Chúng là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng tiềm ẩn. Một số ví dụ về các virut DNA là virus Herpes, poxviruses, hepadnaviruses và viêm gan B.

Các virus RNA Các virus có RNA trong hệ gen của chúng được phân loại là các virus RNA. Các virus RNA có thể được phân loại sâu hơn như các virus ARN đơn lẻ và các virus RNA kép. RNA đơn ARN có thể được phân loại thành các gen RNA có ý nghĩa âm tính và tích cực. RNA có ý nghĩa dương tính phục vụ trực tiếp như mRNA, nhưng để phục vụ dưới dạng mRNA, RNA âm tính tiêu cực phải sử dụng RNA polymerase để tổng hợp một sợi bổ sung dương.

Các đột biến chính giữa hai loại này là virus RNA có RNA trong hệ gen của chúng, trong khi các virut DNA có DNA trong bộ gen của chúng. Cả DNA và RNA không thể tìm thấy trong cùng một loại virut.

• RNA virus lần đầu tiên hấp thụ vào bề mặt tế bào chủ. Sau đó, virus gắn liền kết hợp với màng tế bào. Cuối cùng là kết quả của sự kết hợp của virut, nucleocapsid được giải phóng vào bào tương cytoplasma. Không giống như các virut RNA, các virut DNA truyền DNA của họ vào trong nhân của tế bào chủ và không vào tế bào chất của tế bào chủ.

• DNA polymerase enzym được sử dụng trong quá trình sao chép DNA. Vì polymerase DNA có hoạt tính tinh chế, mức đột biến thấp hơn trong các virut DNA. RNA polymerase được sử dụng trong quá trình nhân bản ARN RNA của virus. Mức đột biến cao trong RNA vì RNA polymerase không ổn định và có thể gây ra lỗi trong quá trình nhân bản.

• Trong virus DNA, có hai giai đoạn trong quá trình phiên mã là phiên mã sớm và muộn.Trong giai đoạn đầu, mRNAs được tạo ra (alpha và beta mRNA). Trong giai đoạn cuối, các mRNA gamma được tạo ra và được chuyển thành tế bào chất. Giai đoạn cuối xảy ra sau khi sao chép DNA. Các giai đoạn này không thể phân biệt trong quá trình phiên mã RNA trong các vi rút ARN. Các virus RNA dịch mRNA trên ribosome vật chủ và tạo ra tất cả năm protein virut cùng một lúc.

Sự nhân bản ARN của RNA thường xảy ra trong tế bào chất của tế bào chủ, trong khi nhân bản DNA của các virut DNA xảy ra trong hạt nhân của tế bào chủ.